SỬA ĐỔI BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ 2015 - YÊU CẦU CẤP BÁCH TỪ HƠN MỘT THẬP KỶ THỰC TIỄN VÀ LÀN SÓNG CẢI CÁCH TƯ PHÁP

Vào ngày 10/7/2026, Trường Đại học Kinh tế - Luật, ĐHQG-HCM (UEL) phối hợp cùng Tòa án nhân dân TP.HCM tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “10 năm thực thi Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và định hướng hoàn thiện”. Hội thảo sẽ diễn ra tại Hội trường Tòa án Nhân dân TP.HCM, quy tụ đội ngũ chuyên gia, thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư cùng các nhà nghiên cứu, giảng viên và nghiên cứu sinh trong lĩnh vực luật. 

Bài viết của PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Nhung - Trưởng khoa, Khoa Luật UEL trước thềm Hội thảo “10 năm thực thi Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và định hướng hoàn thiện”. 

2aOboQijW8DrtayBSzHnj8FUWXSnjAxBvLHe6544
PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Nhung - Trưởng khoa, Khoa Luật UEL

Tròn một thập kỷ kể từ khi Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 chính thức được ban hành, hệ thống tư pháp Việt Nam đã chứng kiến những bước chuyển mình quan trọng. Từ việc lần đầu tiên ghi nhận nguyên tắc tiến bộ “Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng” tại Điều 4 để bảo đảm quyền được giải quyết tranh chấp của người dân, đến việc mở rộng các phương thức bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự, đạo luật này đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử của nó trong giai đoạn đầu của nền kinh tế thị trường số hóa.

Tuy nhiên, xã hội không ngừng vận động, và pháp luật không thể là một chiếc áo mặc mãi khi cơ thể đã lớn lên. Trước yêu cầu bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân ngày càng khắt khe theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đã bắt đầu bộc lộ những “vết rạn” về mặt lý luận và rào cản về mặt thực tiễn. Việc đặt lên bàn nghị sự yêu cầu sửa đổi toàn diện đạo luật này không còn là câu chuyện của tương lai, mà đã trở thành một nhu cầu cấp bách mang tính thời sự.

Background@4x
Từ những “khoảng mờ” lý luận và thẩm quyền thể chế

Nhìn lại 10 năm qua, nguyên tắc Tòa án không được từ chối xét xử khi chưa có điều luật rõ ràng là một thành tựu lập pháp lớn, nhưng cũng chính là nơi phát sinh nhiều vướng mắc nhất. Khi đối diện với các tranh chấp mới phát sinh từ không gian mạng hoặc các mô hình kinh tế chia sẻ, việc áp dụng án lệ, tập quán và lẽ công bằng tại Tòa án vẫn còn mang tính dè dặt, thiếu một hành lang hướng dẫn nhất quán và đồng bộ.

Bên cạnh đó, việc phân định thẩm quyền giữa các Tòa án với nhau hoặc giữa Tòa án với các cơ quan, tổ chức khác trong giải quyết các vụ việc dân sự đôi khi vẫn rơi vào tình trạng chồng chéo hoặc đùn đẩy trách nhiệm. Để xây dựng một nền tư pháp độc lập, địa vị pháp lý và trách nhiệm của người tiến hành tố tụng cần phải được củng cố mạnh mẽ hơn, bảo đảm họ chỉ tuân theo pháp luật mà không chịu bất kỳ áp lực vô hình nào. Đây không chỉ là câu chuyện của lý luận mà còn là vấn đề triển khai trên thực tế, nhưng chung quy cơ sở thực hiện vẫn phải dựa trên các nguyên tắc, quy định và chế tài trong Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ngoài ra, việc tái định vị vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong hệ thống tố tụng dân sự cũng cần được nhắc đến. Nghị quyết số 27-NQ/TW đặt ra yêu cầu hoàn thiện thể chế để viện kiểm sát nhân dân thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp; hoàn thiện cơ chế tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, tăng cường kiểm soát bên trong việc thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động xét xử phù hợp với nguyên tắc thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Trong lĩnh vực tố tụng dân sự, để tôn trọng tối đa nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự, vốn là nền tảng của mọi quan hệ dân sự, việc xác định lại phạm vi tham gia của Kiểm sát viên vào quá trình giải quyết vụ việc dân sự một cách hợp lý là điều cần thiết. Sự đồng hành của cơ quan công quyền vừa phải mang tính chất bổ trợ, tôn trọng tối đa quyền tự quyết của người trong cuộc, vửa phải thực hiện tốt chức năng kiểm tra, giám sát hoạt động xét xử để bảo đảm công lý đi đúng hướng. Đồng thời, cũng cần luật hóa tinh thần Nghị quyết 205/2025 vào Bộ luật Tố tụng dân sự, qua đó trao quyền cho Viện kiểm sát nhân dân khởi kiện các vụ án dân sự để bảo vệ lợi ích công cộng hoặc đứng ra bảo vệ những nhóm thế yếu dễ bị tổn thương khi không có người đứng ra khởi kiện, thống nhất chủ thể có quyền khởi kiện trong Bộ luật Tố tụng dân sự.

... Đến rào cản chứng cứ trong kỷ nguyên số

Nếu lý luận là phần khung thì chế định chứng cứ, chứng minh chính là "máu thịt" của mỗi vụ án. Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 được thiết kế ở thời điểm mà chuyển đổi số mới chỉ là những khái niệm sơ khởi. Giờ đây, khi các giao dịch điện tử, hợp đồng thông minh và tài sản ảo bùng nổ, quy định về thu thập, đánh giá và sử dụng thông điệp dữ liệu điện tử của bộ luật hiện hành đã trở nên quá chật chội và thiếu tương thích, gây ra tình trạng “trăm hoa đua nở” trong cách thu thập, sử dụng và đánh giá chứng cứ điện tử ở các cấp Toà án.

Thực tiễn xét xử cũng đang kêu cứu trước tình trạng lạm dụng quyền bổ sung chứng cứ của các bên đương sự nhằm kéo dài vụ án một cách vô lý. Việc xây dựng một cơ chế “chốt chứng cứ” nghiêm ngặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ là giải pháp cần thiết để chấm dứt tình trạng "găm" chứng cứ đến tận phiên tòa phúc thẩm mới tung ra, làm kéo dài vụ án, gây hao tổn tinh thần, sức lực, tiền bạc của cả nhân dân là người trong cuộc lẫn Nhà nước.

Hơn thế nữa, để xây dựng chế định tố tụng tư pháp lấy xét xử là trung tâm, tranh tụng là đột phá, cũng như tăng cường tính độc lập của Toà án theo tinh thần của Nghị quyết 27-NQ/TW, cần giới hạn nghĩa vụ thu thập chứng cứ của Tòa án. Luật Tổ chức Toà án năm 2024 sửa đổi bổ sung năm 2025 đã có quy định mới về trách nhiệm thu thập chứng cứ của Toà án, nhưng các quy định về vấn đề này trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 vẫn chưa thay đổi tương ứng, tạo ra sự thiếu nhất quán, gây khó hiểu và khó khăn trong triển khai, áp dụng quy định của luật. Thiết nghĩ, Tòa án chỉ nên hỗ trợ thu thập chứng cứ trong các vụ án bảo vệ lợi ích công cộng hoặc bảo vệ người yếu thế (như trẻ em, người khuyết tật, người già, người là nạn nhân của bạo lực gia đình…) và phân quyền về cho các cơ quan bổ trợ tư pháp để hỗ trợ cho đương sự hoặc tăng quyền năng cho luật sư, đảm bảo mục tiêu “hoàn thiện thể chế về luật sư và hành nghề luật sư, bảo đảm để luật sư thực hiện tốt quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm theo quy định của pháp luật” trong Nghị quyết số 27-NQ/TW. Việc cào bằng nghĩa vụ chứng minh không chỉ gây quá tải cho hệ thống Tòa án mà còn vô tình làm giảm đi trách nhiệm chủ động của các đương sự. Ngoài ra, các quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng cần được hoàn thiện cơ chế bảo đảm trách nhiệm tài chính nhằm ngăn chặn việc lạm dụng yêu cầu ngăn chặn tài sản gây thiệt hại cho đối phương. Biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng cần được nghiên cứu mở rộng theo hướng cho phép áp dụng trước khi nộp đơn khởi kiện, nhằm bảo vệ các lợi ích chính đáng như bảo vệ hiện trạng tài sản, bảo toàn chứng cứ, bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình… trong một khoảng thời gian hợp lý, khi đương sự chưa thực sự cần khởi kiện để phân định thắng/thua.

Tối ưu hóa nguồn lực tư pháp bằng cải cách quy trình

Một nền tư pháp tiến bộ phải là một nền tư pháp hiệu quả và nhanh chóng. Những hạn chế cố hữu trong trình tự tố tụng sơ thẩm và phúc thẩm hiện nay đang vô tình kéo lùi tiến độ và làm giảm chất lượng xét xử. Sự rườm rà của thủ tục đôi khi biến những vụ tranh chấp nhỏ thành những "vụ án thế kỷ", tiêu tốn thời gian và tiền bạc của cả người dân lẫn nhà nước.

Chìa khóa cho nút thắt này nằm ở việc cải cách thủ tục rút gọn. Thực tiễn áp dụng thủ tục rút gọn trong thời gian qua còn quá khiêm tốn do các điều kiện áp dụng khắt khe, mang tính định tính cao và thiếu linh hoạt. Việc sửa đổi Bộ luật Tố tụng dân sự theo hướng mở rộng phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn một cách hợp lý (như dựa trên giá trị tài sản tranh chấp, xác định các quan hệ tranh chấp đặc thù…), kết hợp với các cơ chế hòa giải, đối thoại ngoài Tòa án, sẽ giúp tối ưu hóa nguồn lực tư pháp, phân bổ năng lượng của hệ thống Tòa án vào các vụ đại án phức tạp hơn. Song song đó, hệ thống quy trình và thủ tục tố tụng cũng cần có những bước chuyển mình mạnh mẽ nhằm tương thích với mô hình Tòa án điện tử, tạo không gian và cơ chế cho mô hình này vận hành hiệu quả. Đây chính là chìa khóa mở đường và tạo động lực cho sự bứt phá của mô hình tư pháp số trong tương lai.

Sửa đổi Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 không phải là phủ nhận giá trị của quá khứ, mà là sự chuẩn bị chủ động cho tương lai. Một bộ luật tố tụng dân sự mới, hiện đại hơn, minh bạch hơn, thích ứng với đòi hỏi của cuộc cách mạng công nghệ số hơn và tôn trọng quyền tự định đoạt của người dân hơn, sẽ là bệ phóng vững chắc cho công cuộc cải cách tư pháp. Đó không chỉ là tâm nguyện của giới luật học, của những người làm công tác thực tiễn tại Tòa án, Viện kiểm sát, hay các văn phòng luật sư, mà hơn hết, đó là đòi hỏi chính đáng của người dân vào một nền tư pháp công bằng, nghiêm minh và phụng sự nhân dân.

1
UEL và Tòa án Nhân dân TP.HCM ký kết hợp tác vào tháng 01/2026, tăng cường gắn kết giữa cơ sở đào tạo và cơ quan thực thi pháp luật trong hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và gắn kết cộng đồng

PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Nhung - Trưởng khoa, Khoa Luật UEL